Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Ba nguyên tắc đầu tư bất hủ của Benjamin Graham và phong cách đầu tư của Warren Buffett


Warren Buffett được thừa nhận rộng rãi là một nhà đầu tư vĩ đại nhất của mọi thời đại, nhưng nếu bạn hỏi ông xem ai là nhà đầu tư vĩ đại nhất câu trả lời mà bạn có thể nhận được từ cây đại thụ trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu là: Benjamin Graham. Graham là nhà đầu tư thông thái, người được xem là Bố già trong lĩnh vực phân tích chứng khoán và đầu tư giá trị. Ý tưởng và phương pháp đầu tư của ông được trình bày rõ ràng trong cuốn sách “Security analysis - Phân tích chứng khoán” (1934) và cuốn “The intelligent - nhà đầu tư thông minh” (1949), là hai trong số những ấn phẩm nổi tiếng nhất của ông. Những ấn phẩm này thường được xem là cần thiết phải đọc của bất cứ nhà đầu tư nào mặc dù chúng không dễ đọc chút nào. Ở đây chúng tôi đã cô đọng lại những nguyên tắc đầu tư chính của Graham và giúp bạn có một khởi đầu trong việc hiểu được triết lý mang lại thắng lợi của ông.  
Ba nguyên tắc đầu tư bất hủ của Benjamin Graham và phong cách đầu tư của Warren Buffett 
Nguyên tắc 1: Luôn đầu tư với lợi nhuận an toàn 
Lợi nhuận an toàn là nguyên tắc mua chứng khoán với giá giảm đáng kể tới mức giá trị thực, nó được hiểu là không chỉ đem đến những cơ hội lãi lớn mà còn hạn chế tối đa nguy cơ giảm giá trong đầu tư. Ví dụ đơn giản, Graham muốn mua tài sản có giá trị 1 đô la nhưng trả giá 0.5 đô la. Ông ấy làm điều này rất tốt.
Đối với Graham những tài sản này có thể đáng giá bởi tiềm năng sinh lời ổn định hoặc đơn giản vì chúng có giá trị thanh khoản. Ví dụ như thật không bình thường nếu Graham đầu tư vào cổ phiếu nào mà tài sản có thể thanh khoản được trên bảng cân đối kế toán (giá trị thực của các khoản nợ) có giá cao hơn mức chấp nhận của thị trường (theo Graham gọi tên là thu nhập ròng). Điều này có nghĩa Graham đang mua một thứ mà chẳng có lợi chút nào. Đây là chiến lược đầu tư điển hình trong số nhiều chiến lược của Graham.
Khái niệm này rất quan trọng để các nhà đầu tư lưu ý vì đầu tư giá trị đem đến lợi nhuận thực chất một khi thị trường không thể tránh khỏi việc tái định giá làm tăng giá cổ phiếu tới mức hợp lý. Nó cũng giúp bảo vệ trong trường hợp thị trường đi xuống nếu mọi thứ diễn ra không theo kế hoạch và tình hình kinh doanh bấp bênh. Khoản lợi nhuận an toàn từ việc mua lại công ty được định giá thấp hơn giá trị của nó rất nhiều là điểm trung tâm trong những thương vụ thành công của Graham. Khi lựa chọn kỹ lưỡng, Graham nhận thấy hiếm khi xuất hiện sự sụt giá thêm nữa ở những cổ phiếu có giá trị thấp này. Khi nhiều sinh viên của Graham thành công với những chiến lược của riêng mình thì họ vẫn đều cùng chia sẻ quan điểm chính là “lợi nhuận an toàn’. 
Nguyên tắc 2: Đương đầu với sự bất ổn và kiếm lợi từ đó 
Đầu tư chứng khoán có nghĩa là đối phó với sự bất ổn. Thay vì tháo chạy lúc thị trường căng thẳng thì nhà đầu tư thông minh lại chào đón xu hướng suy giảm như cơ hội đầu tư tuyệt vời. Graham minh họa điều này bằng hình ảnh tương tự ”Ngài Thị trường”, đối tác kinh doanh tưởng tượng của mọi nhà đầu tư. Hàng ngày ‘Ngài thị trường” chào giá các nhà đầu tư hoặc để mua hoặc để bán cổ phần kinh doanh. Lúc thì thị trường bị quá khích bởi viễn cảnh kinh doanh và đưa ra mức giá quá cao, khi thì thất vọng bởi tương lai và đưa ra mức giá quá thấp.
Bởi thị trường chứng khoán có những cảm xúc tương tự nên bài học ở đây là bạn không nên để những quan điểm của “Thị trường” sai khiến những cảm xúc của riêng bạn, hoặc tệ hơn là định hướng cho quyết định đầu tư của bạn. Thay vì thế, bạn nên định hình phong cách tiên lượng về giá trị của riêng mình trên cơ sở kiểm chứng sự kiện một cách chắc chắn và hợp lý. Hơn nữa bạn chỉ nên mua khi giá được chào có ý nghĩa và bán khi được giá. Ở một khía cạnh khác, thị trường đôi khi chao đảo bất thường, nhưng thay vì sợ hãi trước sự bất ổn bạn hãy sử dụng nó như một cơ hội để mua được giá hời và bán ra khi cổ phần của bạn được giá cao hơn giá trị thực.
Đây là hai chiến thuật Graham đưa ra nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ tính bất ổn của thị trường: 
1. Bình ổn giá trị đô la 
Bình ổn giá trị đô la được thực hiện bằng cách định kỳ mua cổ phiếu tương đương với một giá trị đô la nhất định. Nó giúp duy trì ổn định giá, có nghĩa nhà đầu tư không phải quan tâm đến việc mua nó hoàn toàn ở vị trí dẫn đầu thị trường hay không. Bình ổn giá trị đô la là một phương thức dành cho nhà đầu tư thụ động và nó làm giảm bớt gánh nặng trách nhiệm trong việc chọn  mua cổ phiếu với giá bao nhiêu và khi nào cho đúng. 
2. Đầu tư cả cổ phiếu và trái phiếu 
Graham gợi ý nhà đầu tư nên phân bổ danh mục đầu tư cân đối giữa cổ phiếu và trái phiếu như một cách để bảo toàn vốn khi thị trường suy thoái thì vẫn duy trì được thu nhập từ trái phiếu. Nên nhớ triết lý của Graham là trên hết phải bảo toàn vốn sau đó mới làm cho nó tăng trưởng. Ông đưa ra mức 25% – 75% đầu tư vào trái phiếu tùy tình hình biến đổi thị trường. Chiến thuật này có điểm lợi là giữ cho nhà đầu tư tránh được cảm giác khó chịu dẫn đến sự cám dỗ tham gia vào các thương vụ bất lợi. 
Nguyên tắc 3: Tự biết mình thuộc loại nhà đầu tư nào 
Graham khuyên các nhà đầu tư phải biết rõ cá tính đầu tư riêng của mình. Để minh họa cho điều này, ông phân biệt rõ những nhóm nhà đầu tư khác nhau tham gia trên thị trường. Nhóm chủ động và nhóm bị động. Graham đề cập đến khái niệm chủ động cho những nhà đầu tư tấn công và bị động cho nhưng nhà đầu tư phòng thủ. Bạn chỉ có duy nhất một trong hai lựa chọn: hoặc là hãy cam kết nghiêm túc bằng thời gian và sức lực của mình để trở thành nhà đầu tư có hạng, biết cân bằng giữa lượng và chất của khảo sát thực tế với lãi suất mong đợi. Nếu đây không phải là thế mạnh của bạn hãy bằng lòng chấp nhận mức lời bị động và thấp hơn nhưng với thời gian và công sức rất ít. Graham thay đổi quan niệm có tính hàn lâm từ trước tới nay là “rủi ro = lợi nhuận”. Đối với ông thì “công sức = lợi nhuận” mới đúng. Bạn càng bỏ ra nhiều công sức trong việc đầu tư bạn càng kiếm được nhiều lợi nhuận.
Nếu bạn không có đủ thời gian và sự nghiên cứu nghiêm túc một cách chất lượng danh mục đầu tư của bạn thì hãy hãy đầu tư vào một danh mục được lựa chọn tốt. Graham cho rằng nhà đầu tư thụ động có thể đạt được lợi nhuận trung bình bằng cách đơn giản mua 30 cổ phiếu công nghiệp Dow Jones với lượng trung bình như nhau. Cả Graham và Buffett đều cho rằng có thể đạt được lợi nhuận trung bình, ví dụ giống như lợi nhuận của S&P 500 – thì đó là một thành quả thực sự hơn là dường như có thể. Theo Graham, sự ảo tưởng của nhiều người mua cổ phần là ở chỗ nếu quá dễ để có được khoản lợi nhuận trung bình mà chẳng mất hoặc bỏ ra một chút công sức (thông qua danh mục đầu tư) thì bỏ ra thêm một chút công sức chắc sẽ mang lại lợi nhuận lớn hơn một chút. Thực tế thì hầu hết những người cố gắng làm việc này đến cùng đã làm cho lợi nhuận kém hơn nhiều mức trung bình.
Theo quan điểm hiện đại nhà đầu tư phòng thủ thì đầu tư vào danh mục có cả cổ phiếu và trái phiếu. Về bản chất họ sở hữu toàn bộ thị trường, hưởng lợi từ khu vực đang hoạt động tốt nhất mà không cần cố gắng dự đoán từ trước. Làm như vậy, một nhà đầu tư hầu như được bảo đảm có lợi nhuận của thị trường và tránh được điều tồi tệ hơn mức trung bình bằng cách để kết quả tổng thể thị trường tự kiểm soát lợi nhuận dài hạn. Theo Graham, việc bắt nhịp thị trường nói thì dễ hơn làm, và nhiều nhà đầu tư thấy mình không bắt nhịp được thị trường. 
Người đầu cơ và Nhà đầu tư 
Không phải tất thảy người chơi chứng khoán đều là nhà đầu tư. Graham tin rằng đánh giá phê phán ai còn xác định đâu là nhà đầu cơ hay nhà đầu tư. Sự khác nhau đơn giản là: một nhà đầu tư coi cổ phiếu như một phần công việc kinh doanh và người nắm giữ cổ phiếu là người chủ công việc kinh doanh đó, trong khi quan điểm của nhà đầu cơ xem đó như là trò chơi với những tờ giấy đắt tiền, không quan tâm đến giá trị thực. Đối với nhà đầu cơ, giá trị chỉ được xác định bởi giá do người nào trả giá cho tài sản đó. Graham chỉ ra rằng đầu cơ hay đầu tư cũng đều thông minh – miễn sao bạn chắc chắn hiểu chính mình sẽ làm tốt ở loại nào. 
Phong cách đầu tư của Warren Buffett 
Những luận điểm cơ bản của Graham là bất hủ, là hết sức cần thiết cho sự thành công lâu dài. Ông mua cổ phiếu với quan niệm mua dưới mức giá trị của doanh nghiệp và biến nó trở thành khoa học trong khi hầu hết tất cả các nhà đầu tư có quan điểm chơi chứng khoán đều dựa trên sự suy đoán. Graham là bậc thầy vĩ đại đầu tiên về đầu tư, chứng tỏ những gì trong dòng máu tri thức của dòng họ tự thức phát triển. Nếu bạn muốn cải thiện kỹ năng đầu tư của mình, chẳng hại gì khi học những điều tuyệt vời nhất; Graham tiếp tục chứng minh giá trị học thuyết thông qua những môn đồ của ông, ví như Warren Buffett, người đã tao ra một tập quán cho nhịp điệu thị trường.  
Trong ấn phẩm cuối cùng về Warren Buffett  “Phong cách đầu tư của Warren Buffett” (2004), Robert Hagstrom đã minh họa phương pháp đầu tư của nhà đầu tư giá trị lỗi lạc nhất thế giới. Nếu bạn muốn lựa chọn một phong cách đầu tư giá trị cổ điển, hẳn bạn cũng biết Warren Buffett là hình mẫu có vai trò lớn. Ngay từ ngày đầu lập nghiệp, Buffett đã nói “trong tôi có đến 85% là Benjamin Graham”. Graham là cha đẻ của đầu tư giá trị. Ông đã đưa ra khái niệm về giá trị nội tại – là giá trị cơ bản hợp lý của cổ phiếu dựa trên khả năng sinh lời của nó trong tương lai.
Có một số thứ chẳng có giá trị gì theo diễn giải về đầu tư giá trị của Warren Buffett. Thứ nhất, giống như rất nhiều công thức cho sự thành công, chúng thoạt nhìn khá đơn giản nhưng không có nghĩa là dễ dàng. Bufett sử dụng hàng tá “nguyên lý đầu tư” hay sự tính toán then chốt. Một trong số đó yêu cầu ban quản lý phải trung thực với các cổ đông. Điều yêu cầu này đơn giản và dễ hiểu nhưng chẳng dễ trả lời chút nào. Có những ví dụ thú vị về mâu thuẫn này: khái niệm thì phức tạp nhưng cũng đơn giản. Ở khía cạnh này, giá trị kinh tế gia tăng (EVA) là một ví dụ thích hợp. Sự tính toán đầy đủ của EVA không dễ gì lĩnh hội và sự giải thích về chiều hướng của EVA thì phức tạp. Nhưng một khi bạn xem EVA chỉ là một danh mục dài các biến số và khi được trang bị bằng công thức thì nó trở nên dễ dàng để tính toán EVA cho bất kỳ công ty nào. Vì thế cho nên những nguyên lý của Buffett nghe có vẻ lời nói sáo bởi chúng dễ hiểu nhưng lại có thể rất khó triển khai và ngược lại. 
Thứ hai, cuốn “Cách thức của Warren Buffett” có thể được xem như phong cách truyền thống căn bản trong đầu tư mà rất dễ thích nghi. Thậm chí tác giả của cuốn sách bán chạy nhất cũng chính là môn đồ của phái thực hành, hay người theo triết lý Buffett đôi lúc điều chỉnh cách tiếp cận riêng trong suốt quá trình đầu tư kể cả cổ phiếu công nghệ cao, lĩnh vực dễ thấy Buffett tiếp tục tránh xa. Một trong những khía cạnh hấp dẫn của trường phái Buffett là tính linh hoạt bên cạnh những thành công phi thường của nó. Nếu là một tôn giáo thì nó không mang tính giáo điều mà thay vào đó là sự tự phản ánh và thích ứng qua thời gian. Đây là tín hiệu tốt. Nhà kinh doanh trong ngày có thể yêu cầu những nguyên tắc cứng rắn và bám vào công thức (có nghĩa là một phương tiện kiểm soát tình cảm), nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể chắc chắn nói rằng những nhà đầu tư thành công không gì hơn là cần phải có ý thức thích nghi với những trạng thái tinh thần tương ứng với thời gian khác nhau. 
Theo Hagstrom, Buffett có mười hai nguyên lý đầu tư. Chúng được phân thành các nhóm gồm kinh doanh, quản lý, thước đo tài chính và giá trị.

Kinh doanh
 
Buffett tự giới hạn bản thân một cách cứng rắn không tham gia vào “cuộc đua tranh giành” của thương vụ mà ông có thể phân tích và hiểu rõ. Như Hagstrom viết: thành công trong đầu tư không phải vấn đề ở chỗ bạn biết được bao nhiêu mà là bạn thực tế đến đâu trong việc xác định được cái mà bạn không biết. Buffett xem sự hiểu biết sâu sắc về vận hành kinh doanh này là điều kiện tiên quyết đối với dự báo khả thi của hoạt động kinh doanh trong tương lai; có nghĩa là nếu bạn không hiểu về kinh doanh thì làm sao bạn có thể tiên đoán được hoạt động? Mỗi nguyên lý kinh doanh của Buffett đều hỗ trợ cho mục tiêu xây dựng nên đề án lớn: Đầu tiên hãy nhớ rằng bạn đang phân tích việc kinh doanh không phải là thị trường hay nền kinh tế hay sự ủy mị của nhà đầu tư. Thứ hai là kiên định trong việc tìm kiếm lịch sử hoạt động bởi nó sẽ giúp cải thiện năng lực của bạn. Và thứ ba là phải biết chắc thương vụ có triển vọng về lâu dài hay không. 
Quản lý 
Ba nguyên tắc quản lý của Buffett có liên quan đến việc đánh giá chất lượng quản lý. Có lẽ đây là tác nghiệp phân tích khó nhất của nhà đầu tư. Buffett đòi hỏi “quản lý có hợp lý không?” Cụ thể quản lý sẽ là khôn ngoan khi nó thỏa mãn yêu cầu tái đầu tư lợi nhuận hoặc chia lợi tức của cổ đông. Đây là câu hỏi sâu sắc. Hầu hết các khảo sát cho dù theo nhóm hay bình quân đều cho thấy có tính lịch sử rằng quản lý có xu hướng trở nên tham lam và giữ lại lợi nhuận càng nhiều càng tốt vì theo lẽ tự nhiên họ có xu hướng xây dựng đế chế và tìm kiếm một vị thế hơn là sử dụng dòng vốn theo cách tối đa hóa giá trị của cổ đông. Một nguyên tắc khác đòi hỏi quản lý phải trung thực. Họ có chấp nhận sai lầm không?
Và nguyên tắc quản lý cuối cùng đòi hỏi rằng: quản lý có chịu đựng được những mệnh lệnh hành chính không? Nguyên lý này là quan trọng trong phạm vị rộng, nó bao gồm cả việc tìm kiếm ban quản lý say mê hành động và chống lại việc mù quáng sao chép chiến thuật và chiến lược của đối thủ cạnh tranh. Nếu đọc cuốn sách, nguyên tắc đặc thù này có giá trị một cách khác thường. Nó đòi hỏi sự suy ngẫm và là một trong những điều quan trọng nhất (ví dụ: việc đầu tiên tham gia thị trường, một công ty phải xác định đâu là ranh giới giữa việc sao chép một cách mù quáng chiến thuật của đối thủ cạnh tranh với việc đưa ra một chiến thuật vượt trội?) 
Thước đo tài chính 
Nguyên tắc tài chính không mấy phức tạp. Buffett nhìn vào lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE). Hầu hết các sinh viên tài chính đều hiểu rằng ROE có thể bị nhiễu bởi tỷ số nợ (là tỷ số giữa tổng nợ với vốn chủ sở hữu), cho nên về lý thuyết chỉ số này còn thấp hơn chỉ số tỷ số lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROC) theo một số phương diện. ROC theo tôi có nghĩa là giống như lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) hay lợi nhuận trên vốn vay (ROCE) mà ở đó tử số là lợi nhuận được tạo ra từ tất cả các nguồn vốn được cung cấp và mẫu số bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay. Dĩ nhiên, Buffett hiểu rằng thay vì loại bỏ riêng các doanh nghiệp mang nợ thì tốt hơn là xem xét đến một mức nợ thấp hợp lý. Ông cũng tìm kiếm mức lợi nhuận cao ở mức hợp lý tự nhiên.
Hai nguyên tắc tài chính cuối cùng đều có chung cơ sở lý thuyết từ khái niệm Giá trị kinh tế gia tăng. Đầu tiên Buffett xem xét đến cái mà ông gọi là “thu nhập của chủ sở hữu”. Về thực chất đây là thu nhập sẵn có của các cổ đông, về tính kỹ thuật thì nó không liên quan tới thu nhập từ cổ phần. Theo Buffett, nó được định nghĩa là lãi ròng (Net income) cộng thêm phần giá trị khấu hao và phần nợ trả dần (nghĩa là phần giá trị không bao gồm khoản phí liên quan đến tiền) (D&A) trừ đi chi phí vốn đầu tư dài hạn (CAPX) trừ đi chi phí vốn phát sinh cho nhu cầu hoạt động (charge in W/C). Tóm lại: lãi ròng + D&A – CAPX – (charge in W/C). Người theo chủ nghĩa thuần túy sẽ phản đối những điều chỉnh chi tiết nhưng biểu thức này gần với khái niệm EVA trước khi bạn trừ đi phần chi trả cổ tức cho cổ đông. Về cơ bản, với khái niệm “thu nhập chủ sở hữu”, Buffett chỉ ra năng lực công ty trong việc điều hành đồng vốn của cổ đông cũng chính là giới chủ. Nguyên tắc cuối cùng được gọi là “Học thuyết một đồng đô la” (one-dollar premise). Giá trị thị trường trên một đô la được chuyển nhượng vào mỗi đô la thu nhập được giữ lại là gì? Thước đo này rất giống với khái niệm Giá trị thị trường gia tăng (MVA), tỷ số giá trị thị trường trên vốn đầu tư. 
Giá trị 
Nhóm nguyên tắc cuối cùng là Giá trị, theo đó Buffett thiết lập cách làm dựa trên sự dự đoán giá trị thực của một công ty. Một đồng nghiệp kết luận quá trình liên quan mật thiết thiết này như “toán học liên kết”. Buffett dự đoán thu nhập chủ sở hữu trong tương lai sau đó chiết khấu trở lại tới giá trị hiện tại. Nên nhớ rằng nếu bạn áp dụng nguyên tắc khác, sự dự đoán thu nhập tương lai – theo định nghĩa – được thực hiện dễ hơn thông thường. Ví dụ như những khoản thu nhập không đổi định kỳ thì dễ dự đoán hơn.
Buffett cũng đưa ra khái niệm “rào chắn - Moat”, cái được nổi lên như một hệ quả trở thành tập quán thành công trên Morningstar của những công ty được yêu thích nhờ có “rào chắn kinh tế” (economic moat). Rào chắn là “cái đem lại cho công ty một lợi thế rõ rệt hơn đối thủ khác và bảo vệ nó trước những sự tấn công bất ngờ từ sự cạnh tranh”. Một chút ít tính lý thuyết dị giáo có lẽ chỉ xảy ra với nhà hiền triết từ Omaha, ông khấu trừ từ thu nhập được dự tính tới mức không có tỷ lệ rủi ro. Ông thực hiện bằng cách kiên định với nguyên tắc “lợi nhuận an toàn – margin of safety” trong khi áp dụng thận trọng những nguyên tắc khác với hàm ý giảm tới mức tối thiểu rủi ro chứ không có nghĩa thực sự loại bỏ được rủi ro. (Hãy tham khảo công ty nào  mà Warren Buffett đang mua và bán? Hãy tham gia vào Coattail Investor, một sản phẩm đăng ký theo chân một số nhà đầu tư tốt nhất thế giới)
Nguyên lý của Buffett tạo thành nền tảng trong đầu tư giá trị, nó có cơ chế mở cho sự thích nghi và diễn giải lại về sau. Nó là một câu hỏi mở tới mức những nguyên tắc này đòi hỏi sự bổ sung bằng tri thức trong tương lai, nơi những quá trình lịch sử diễn ra tương ứng khó tìm thấy hơn, yếu tố vô hình đóng một vai trò quan trọng hơn trong giá trị quyền kinh doanh và sự không rõ ràng về ranh giới giữa các ngành công nghiệp làm cho sự phân tích kinh doanh càng khó khăn hơn.
Dàn xếp “đầu cơ xuống giá” cổ phiếu: Ai được lợi?
Khi những đợt đầu cơ xuống giá bị sụt giảm trong tháng ba, một số người trong cuộc đã tranh cãi rằng thật sai lầm khi đổ lỗi cho những dự đoán rủi ro của công ty trong việc dùng cổ phiếu để thế chấp bởi họ đã có một bị cáo khác: đó chính là những người giao dịch chứng khoán muốn trục lợi đã cùng bàn nhau kiếm tiền bằng cách kéo giá cổ phiếu xuống trong cái thế giới luôn chao đảo đó. 
<
Dàn xếp “đầu cơ xuống giá” cổ phiếu: Ai được lợi?
Không một ai công khai thú nhận việc tổ chức một đợt “đầu cơ xuống giá” khi việc chủ tâm thao túng thị trường giá cổ phiếu được coi là phạm pháp, và trong khi chính Phố Wall vẫn tin rằng những đợt đầu cơ xuống giá không chỉ có thể mà còn thường xảy ra liên tục. Tuy nhiên, vừa có một số nghiên cứu từ các trường đại học nhằm giải thích động lực của việc này. Hiên nay, có  hai chuyên gia tài chính mới đưa ra một số quan niệm dựa trên quá trình đó. Và theo lời giáo sư tài chính Itay Goldstein thuộc trường Wharton thì: “Chúng tôi chủ yếu mô tả một học thuyết của hành động thao túng đầu cơ xuống giá như thế nào.” Ông cùng Alexander Guembel đến từ trường kinh doanh Said và trường cao đẳng Lincoln của đại học Oxford đã mô tả thủ tục này trong bài báo của họ có tiêu đề là “Manipulation and the Allocational Role of Prices”. 
Nghiên cứu quan trọng của họ đã làm sáng tỏ được ảnh hưởng qua lại giữa giá trị kinh tế thực của một công ty và giá cổ phiếu của nó, bằng việc chỉ ra được những người giao dịch chứng khoán chủ tâm hướng cho giá thị trường cổ phiếu đi xuống để có thể ngầm phá hoại tình hình hoạt động của công ty, cũng như làm cho giá cổ phiếu bị sụt giảm trong tương lai theo một chu trình luẩn quẩn. 
Giáo sư Goldstein giải thích rằng: “Cái chúng tôi chỉ ra ở đây đó chính là nhờ việc bán cổ phần mà bạn có được một sự tác động thực tế vào công ty. Nhưng việc kết nối với giá trị thực lại là một việc hoàn toàn khác. Đó chính là yếu tố quyết định.”
Goldstein và Guembel nhận thấy rằng quá trình này chỉ xảy ra khi mục đích là để phá hoại công ty, khi những người giao dịch chứng khoán không có cùng khả năng để tạo được một vòng phản hồi nhằm hướng cho giá cổ phiếu tăng lên.
Mục đích của hành động này chỉ là trục lợi, bởi khi một người giao dịch chứng khoán vay được cổ phiếu của một người môi giới thì họ sẽ bán chúng và hy vọng trả lại khoản nợ đó bằng cổ phiếu đã được mua lại sau khi bán để ăn chênh lệch. Mà hành động trục lợi này có lãi chỉ khi giá thị trường cổ phiếu đi xuống – tức là bán ra thì cao và sau đó mua vào thì thấp. Và nếu giá tăng lên thì anh ta phải mua những cổ phiếu thay thế nhiều hơn những cái mà anh ta đã bán.
Dàn xếp việc định giá cổ phiếu 
Sự kết nối giữa giá cổ phiếu của một công ty với giá trị thực của nó không hề khít nhau như nhiều người vẫn nghĩ. Các công ty bán cổ phần ra thị trường để có thêm vốn. Vì thế, một khi các cổ phiếu được lưu thông thì giá của nó có xu hướng tăng hay giảm đều phản ánh được lợi nhuận của công ty đó là nhiều hay ít, nhưng có những động lực khác lại hấp dẫn hơn nhiều – cũng là xu hướng chung trong thị trường hoặc kinh doanh – đó là việc thực hiện của công ty đều liên quan tới các đối thủ cạnh tranh của nó, và như vậy, sẽ có một sự đầu cơ về chiến lược hoạt động của công ty ra sao để sản phẩm và tính cạnh tranh sẽ có tác động đến doanh thu sau này.
Lúc này các nhà đầu tư nhiệt tình có thể đẩy giá cổ phiếu lên cao cho dù không hề có bằng chứng chắc chắn nào doanh thu sẽ tăng. Nhưng lúc sau thì chính cảm tính của nhà đầu tư lại có thể quay ngược lại, dẫn tới việc giá cổ phiếu đi xuống cho dù công ty đó hoạt động hoàn toàn tốt như thường.
Do mối quan hệ giữa việc thực hiện hoạt động kinh doanh của một công ty với giá cổ phiếu có thể quá lỏng lẻo cho nên nó sẽ kéo dài cảm giác rằng số phận của cổ phiếu không nhất thiết phải có bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp nào đến giá trị kinh tế thực của một công ty, điều luôn được đánh giá bằng những thứ như tài sản và doanh thu của công ty đó.
Và rõ ràng là những kẻ đầu cơ có thể dàn xếp để đẩy cho giá cổ phiếu xuống với một mục đích trục lợi, nhưng theo một số quan điểm của những người giao dịch chứng khoán khác – hoàn toàn tin vào tình hình hoạt động bình thường của công ty – đều nhìn thấy các cổ phiếu như một sự mặc cả và nhu cầu cao hơn sẽ làm cho giá cổ phiếu ổn định hay tăng lên. Vì thế mà một đợt đầu cơ xuống giá sẽ không có tác động lâu dài. Nhưng nếu việc rớt giá cổ phiểu được gây ra bởi một đợt đầu cơ xuống giá gây ra sự thiệt hại về kinh tế thực sự cho công ty thì các nhà đầu tư khác sẽ ngay lập tức bán tháo cổ phiếu, và chính điều này gây ra một chu trình luẩn quẩn về việc rớt giá cổ phiếu cũng như sự thiệt hại về kinh tế sẽ khiến cho đợt đầu cơ xuống giá đó thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Để kiểm tra kịch bản này một cách khách quan hơn, Goldstein và Guembel đã xem xét kỹ một công ty vừa rót khá nhiều tiền vào một dự án tới mức chính công ty cũng khó có thể xác định được chính xác. Và cũng thời điểm đó, có một người đầu cơ biết được giá trị của dự án đó mà chính công ty còn chưa biết được. Lấy ví dụ ở đây là anh ta có thể có được một sự hiểu biết đặc biệt đối với các chi phí về vốn.
Vậy thì, nếu sự hiểu biết đặc biệt này nhận thấy kế hoạch chi tiêu của công ty đó sẽ làm việc tốt thì người đầu cơ đó sẽ mua cổ phần và nhu cầu của anh ta sẽ thúc đẩy giá cổ phiếu lên. Còn nếu sự hiểu biết đặc biệt này nhận thấy kế hoạch chi tiêu sẽ thất bại, anh ta sẽ bán lại cổ phần và chính cái nhu cầu bị giảm đi này sẽ đẩy cho giá cổ phiếu xuống. Và cho dù có bằng cách nào thì sự hiểu biết của người đầu cơ này đều được phản ánh bằng giá cổ phiếu.
Goldstein và Guembel sau đó đưa thêm một yếu tố vào quan điểm truyền thống đối với thị trường này. Đó là công ty xem xét kỹ việc thay đổi giá cổ phiếu như một tín hiệu đánh giá thị trường về triển vọng của kế hoạch chi tiêu của công ty. Và nếu giá cổ phiếu rớt xuống thì việc đánh giá sẽ trở thành vô nghĩa và công ty có thể phải từ bỏ kế hoạch này.
Quay lại vấn đề lúc trước thì người đầu cơ kia cũng đang đưa ra một quyết định theo sự đánh giá của riêng anh ta đối với kế hoạch chi tiêu này. Thế nhưng cả Goldstein và Guembel đều tranh luận rằng cho dù một kẻ đầu cơ chỉ là một người không có sự hiểu biết đặc biệt về kế hoạch đó thì vẫn có thể khai thác được quá trình này nhằm chủ tâm định hướng cho giá cổ phiếu đi xuống.
Giảm giá trị của công ty 
Trong nhiều trường hợp, các thương vụ quan trọng vẫn được thực hiện thông qua những người tạo lập thị thường ở Phố Wall, những người có thể mua hay bán chính những cổ phần của riêng họ đang sở hữu. Người tạo lập thị trường này thường đưa ra một giá dựa trên sự đánh giá của họ về thị trường và họ sẽ quyết định mua hoặc bán theo đặt hàng từ một người đầu cơ cho dù đó là người có biết rõ được đôi điều về công ty đó hoặc không hề biết chút gì. Nhưng nói chung, những người giao dịch chứng khoán có kiến thức thường đóng góp cho thị trường này rất hiệu quả bằng cách đảm bảo rằng giá cổ phiếu luôn phản ánh một cách đúng đắn các giá trị của công ty. Và chính việc truyền được niềm tin cho thị trường mà sự hiệu quả này luôn hướng cho giá cổ phiếu tăng lên.
Nhưng theo ví dụ của các tác giả thì khi người đầu cơ bán cổ phiếu cho người tạo lập thị trường là chỉ vì mục đích trục lợi chứ không hề có sự thấu hiểu tình hình. Hơn nữa, việc anh ta bán ra thực sự là làm giảm hiệu quả của thị trường, mở rộng các hướng cho giá cổ phiếu bị sụt giảm và thu được khoản lợi nhuận trước mắt.
Bên cạnh đó, người đầu cơ có thể thực hiện đươc rất nhiều phi vụ trục lợi như vậy để hướng cho giá cổ phiếu xuống. Việc nhìn thấy sụt giảm giá cổ phiếu như một lá phiếu dành cho việc không còn sự tin tưởng, đồng nghĩa là công ty sẽ phải bỏ lại kế hoạch chi tiêu của nó, bị thất thu do mất đi lợi ích mà dự án đó đáng ra mang lại cho nó và cũng vì thế mà gây ra cho giá cổ phiếu bị rớt xuống trong tương lai.
Các tác giả viết rằng: “Thông thường, đây là quyết định sai lầm và chính nó sẽ làm giảm bớt giá trị của công ty đó. Mà điều này có thể khiến cho người đầu cơ kiểm soát được vị thế tạm thời lúc đó của anh ta về việc bỏ ra chi phí thấp hơn nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Và để đúng với bản chất của chiến lược này, chúng tôi coi nó như sự thao túng.”
Tất nhiên, việc hết sức quan trọng là để không một ai biết người đầu cơ định sẽ làm tiếp điều gì, chính thế mà Goldstein nói rằng: “Nếu ai ai trên thị trường cũng đều biết rằng mục đích ngăn cản của kẻ đầu cơ là để thao túng cổ phiếu thì nó sẽ không hề có tác dụng.” Ông cũng cho biết thêm rằng việc thiết yếu nữa đó là những người khác tham gia vào thị trường này đều cho rằng người thao túng thường dựa vào những quyết định dựa trên sự thấu hiểu tình hình của anh ta cho dù có thể anh ta chẳng biết chút gì.  
Và khi việc thao túng này xuất hiện nó sẽ khiến cho giá cổ phiếu chao đảo, mà đó là điều có ảnh hưởng tới quyết định của công ty xem liệu có nên tiếp tục với dự án chi tiêu của nó hay không. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu thỏa mãn ba điều kiện:
1.      Giá trị của dự án chi tiêu đó không được quá cao.
2.      Phải có được một bản thỏa thuận tốt về tình hình không rõ ràng về việc làm sao mà dự án đó dừng lại.
3.      Công ty phải có được sự phản hồi tích cực từ các thị trường tài chính về triển vọng của dự án đó.
Chính thế nên Goldstein và Guembel viết rằng: “Cuối cùng, chúng tôi thấy rằng sự thao túng sẽ trở thành lợi nhuận chỉ khi nó thông qua được những đơn đặt bán ra. Đấy là bởi vì có hai nguồn lợi nhuận đằng sau chiến lược thao túng đó ... không thể tạo được lợi nhuận với những đơn đặt mua vào.” Và các giáo sư giải thích rằng: người đầu cơ không hề có sự thấu hiểu về tình hình của công ty sẽ giả định nó có giá trị thấp hơn giá thị trường phản ánh, vậy là anh ta sẽ có một sự động viên để bán ra hơn là mua vào.
Tương tự, một người đầu cơ đang hoạt động mà không có một chút kiến thức chuyên môn nào cũng sẽ tạo ra những điều thiếu hiệu quả tương ứng làm cho giá cổ phiếu bị sụt giảm về sau. Và để có được lợi nhuận dựa trên việc sụt giá cổ phiếu, người đầu cơ này phải sử dụng những phi vụ bán ra nhanh bởi anh ta sẽ bị mất tiền nếu anh ta lại mua vào cổ phiếu.
Như vậy, điều cốt yếu đối với sự thao túng đó chính là sự kết nối giữa giá cổ phiếu với giá trị thực của công ty. Thế nên, giáo sư Goldstein đã nói rằng: “Theo truyền thống, mọi người đều nghĩ những thị trường tài chính dường như không có ảnh hưởng gì tới công ty. Nhưng hoàn toàn đó lại không phải là sự thật.”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét