Bên cạnh những lúc “bù đầu” với công việc, bạn cũng sẽ có thời điểm rảnh rỗi trong văn phòng, như thời gian giữa 2 dự án chẳng hạn. Hãy tận dụng những lúc như vậy để giúp ích cho sự nghiệp của mình thay vì để chúng trôi qua một cách lãng phí.
Hãy tận dụng những lúc như vậy để giúp ích cho sự nghiệp của mình thay vì để chúng trôi qua một cách lãng phí.
Dưới đây là 5 cách sử dụng thời gian khi không có việc một cách hiệu quả: Trả lời email Trong thời đại công nghệ thông tin, email là phương tiện liên lạc phổ biến và mỗi ngày bạn lại nhận được hàng chục email với nội dung, mức độ quan trọng khác nhau. Có những thư bạn đã hồi âm ngay khi nhận được và những mail với mức độ ưu tiên thấp hơn bạn chưa có thời gian trả lời. Vì vậy, những lúc chưa có nhiệm vụ mới là thời điểm lý tưởng để sắp xếp lại hòm thư của mình, xóa những thư không cần thiết để tránh làm đầy bộ nhớ và viết mail trả lời. Xây dựng mạng lưới quan hệ Mạng lưới quan hệ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển sự nghiệp. Các mối quan hệ và khách hàng chiến lược có thể đến từ khắp mọi nơi, từ hội chợ thương mại, tới hoạt động từ thiện, hay thậm chí buổi họp phụ huynh của con bạn. Chắc chắn, bạn sẽ “thu hoạch” được kha khá danh thiếp từ các sự kiện đó. Và khi có thời gian, hãy sử dụng chúng để liên lạc với những người mới như hẹn ăn trưa hay đi uống cà phê nhằm bàn về công việc cũng như xây dựng mối quan hệ mới. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể gọi điện cho những liên lạc cũ để củng cố mối quan hệ. Sắp xếp lại các ý tưởng/ vấn đề Thông thường, trong các hoạt động bình thường, sẽ có nhiều vấn đề và ý tưởng nảy sinh. Vì bận rộn nên bạn chỉ ghi lại sơ sài trên giấy note hay ghi nhớ trong đầu. Chúng mãi sẽ chỉ là ý tưởng trên giấy nếu không được giải quyết/ thực hiện. Vì vậy, nếu có thời gian rảnh, hãy sắp xếp lại các ý tưởng/ vấn đề đó và lập kế hoạch hành động cụ thể để hiện thực hóa các ý tưởng khả thi cũng như giải quyết các vấn đề còn tồn đọng. Lên kế hoạch cho thời gian tới Công việc hàng ngày bận rộn có thể khiến bạn quên mất tầm nhìn dài hạn của mình bởi khi bạn luôn cúi đầu và tập trung vào nhiệm vụ trong tay, thật khó để nhìn thấy mục tiêu phía trước. Bạn nên tận dụng thời gian trống để tái tập trung vào những điều quan trọng trong các tuần, tháng sắp tới và quan trọng hơn là đảm bảo rằng các mục tiêu của bạn vẫn thực tế và có thể đạt được. Thực ra, việc này không nên chỉ được thực hiện khi bạn rảnh rỗi mà cần theo theo kế hoạch định kỳ. Nghỉ ngơi, thư giãn Theo logic của các nhà kinh doanh, thời gian rảnh nghĩa là có thêm thời gian để tiến hành các dự án yêu thích bị lãng quên khi bận rộn. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy “quá tải”, hãy dành thời gian đó để nghỉ ngơi và “tiếp nhiên liệu”. Một người được thư giãn để tái tạo năng lượng, sự sánh tạo sẽ làm việc hiệu quả hơn rất nhiều so với người luôn mệt mỏi trong công việc. Ngoài ra, đôi khi, những cơ hội tuyệt vời trong công việc sẽ đến vào lúc bạn hoàn toàn bình tâm như lúc này.
Nguồn: Dân Trí
| |
Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012
5 cách tận dụng thời gian rảnh trong công việc
Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012
Suy tư về Văn hoá hướng tới Văn minh
Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012
Những bài học nhớ đời cuả 'tỷ phú 25 xu'
- Tới Việt Nam trong hành trình caravan xuyên 6 nước châu Á hồi đầu tháng 4, Vikrom Kromadit, tỷ phú người Thái Lan (trong 40 người giàu nhất nước này theo danh sách của Fobers năm 2008) đã có buổi nói chuyện với sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ, thuộc ĐHQG Hà Nội.
Câu chuyện tay không gây dựng cơ đồ của từ 25 xu của người đàn ông giàu có và độc thân với những bài học rút ra từ trải nghiệm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu thực sự ý nghĩa với những người trẻ đang khởi nghiệp.
| Nói chuyện với sinh viên bên ngoài chiếc xe xuyên Á |
Học không bao giờ là đủ
Nỗi ám ảnh lớn nhất của Vikrom là những xung đột gia đình triền miên và người cha tàn nhẫn. Với bản tính trăng hoa, cha ông từng lấy rất nhiều vợ, và có hơn 20 đứa con nhưng không dành tình thương cho bất kỳ đứa con nào. Vikrom cũng bị cha cưỡng bức lao động từ nhỏ, làm rất nhiều công việc nặng nhọc, quá sức với một đứa trẻ đang tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”.
Cha cũng chính là rào cản học hành của Vikrom. Ngay từ khi còn nhỏ, mỗi khi kết thúc một cấp học, ông lại tha thiết van xin bố cho phép học tiếp, đổi lại ông phải làm việc “tối mắt tối mũi” để phụ giúp gia đình từ đi chợ nấu cơm, trông em, đến làm vườn.
Vikrom quan niệm: “ Học không bao giờ là đủ, hãy cứ chăm chỉ học hành, làm việc và tích lũy, ngày thành công sẽ không xa”. Bởi vậy, trong những lúc điều kiện khó khăn nhất, ông vẫn tìm mọi cách để gắng gượng và giành được tấm bằng cử nhân ĐH tại Đài Loan.
Ông xác định cho mình một tư tưởng đúng đắn ngay từ những ngày đầu lập nghiệp: “Để đạt được mục tiêu, trước tiên là phải học hành đến nơi đến chốn”. Nấc thang đầu tiên đưa ông đến với thế giới rộng lớn chính là việc học hành, càng học cao, như có bằng thạc sỹ tại các trường ĐH danh tiếng trên thế giới, học tập trong môi trường có nhiều người giỏi sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi bước vào đời.
Ngay khi tốt nghiệp ĐH, Vikrom khát khao được học tiếp ngành kỹ thuật hàng không tại ĐH Toronto, Canada nhưng vì không đủ tiền trả học phí nên đành gác lại đến khi tiết kiệm đủ tiền sẽ đi học tiếp.
Tỷ phú không ngại học tiếng Anh
Khi đã trở thành một doanh nhân trẻ với những hợp đồng làm ăn, dự án đầu tư đầu tiên, nhận thấy vốn tiếng Anh quá khiêm tốn của mình sẽ bất lợi cho công việc, có những khi trao đổi với đối tác, Vikrom chỉ hiểu một cách mơ hồ và chật vật mới nói được vài câu. Ông đã không ngừng rèn luyện, học hỏi và sau ba tháng đã tự liên hệ, xin giấy phép nhập khẩu FCE của Cục Thực phẩm & dược phẩm Mỹ. Và bây giờ, Vikrom có thể nói trôi chảy, tự tin hoàn toàn về khả năng tiếng Anh của mình.
Với suy nghĩ, gieo trồng vào giáo dục sẽ đem lại thu hoạch cả đời, khi có kiến thức mỗi người sẽ tự lo được cuộc sống của bản thân, không còn là gánh nặng của gia đình và chỉ có học mới có thể tiến xa được, nên ông luôn khuyến khích chính mình, cũng như những người thân cần học hành đến nơi đến chốn dù ở bất cứ lứa tuổi nào.
Muốn thành tỷ phú, phải tiết kiệm
Vikrom cho rằng ngoài chuyện làm việc chăm chỉ, kiên trì cần phải biết cách “quy hoạch” cuộc sống của mình: Sắp xếp mọi thứ theo một trật tự khoa học, chi tiêu hợp lý.
Doanh nhân 59 tuổi tiết lộ: “Tôi là người lý trí và biết sống tiết kiệm từ nhỏ do học được từ mẹ, một người không bao giờ chi tiêu hoang phí. Nhờ tiết kiệm mà bà đủ sức nuôi nấng cả gia đình. Đó là nền tảng mà tôi duy trì từ nhỏ đến bây giờ. Từ nhỏ tôi đã tiết kiệm được 1 vạn bạt nhưng không phung phí. Nó giúp tôi luôn có một cuộc sống ổn định, vững vàng”.
Khi có chút vốn liếng trong tay và thành công trong một số dự án, Vikrom cho biết, càng kiếm được nhiều tiền, ông càng biết quý trọng từng đồng vì đó là mồ hôi, công sức, tâm huyết của mình.
| Vikrom Kromadit là con một người trồng mía nhưng không nối nghiệp cha, từ tỉnh lẻ Vikrom Kromadit quyết chí lập thân ngay giữa thủ đô Bangkok ở tuổi 22 và gần như khởi nghiệp từ con số không. |
Ông cũng không phải vất vả khi phải quản lý số tiền lớn do vay được để phát triển kinh doanh và luôn nhắc nhở mình không bao giờ “vung tay quá trán” để phải trở thành con nợ vô lý.
Kể cả khi đi công tác, ông thường lập kế hoạch kỹ càng và ước tính các khoản chi của chuyến đi. Dù sự nghiệp đang bắt đầu “cất cánh” nhưng Vikrom vẫn hết sức tiết kiệm. Một lần sang Mỹ, ông chỉ mang theo hơn 2.000 USD và dùng tiền rất chừng mực vì nếu hết tiền giữa chừng thì rất gay go khi không thể vay mượn ai nơi “đất khách quê người”.
Thậm chí, Vikrom còn tự nhận mình là “hà tiện”, không thích dùng hàng hiệu vì nó quá đắt mà thường tìm đồ bình dân ở các chợ trời Sanam Luông hay Chatuchak.
Các vật dụng cần thiết trong nhà như tủ lạnh, ti vi, máy điều hòa… thường được “ông chủ” cân nhắc kỹ sự phù hợp giữa giá cả với tính năng sử dụng và độ bền. Vikrom cho biết: “Biết chi tiêu một cách hợp lý giúp chúng ta tự do, không bị lệ thuộc vào người khác”.
Tuy vậy, với sức khỏe thì"yêu cầu khoa học" đặt lên hàng đầu. Ông luôn yêu cầu người nấu bếp phải mua thực phẩm tươi ngon,có lợi cho sức khỏe và hợp khẩu vị; nhất là chất lượng và các vitamin trong đồ ăn.
Lời nói là 'ông chủ' của bản thân
Dù cũng đã bao phen mất trắng, bao lần bị trở mặt nhưng Vikrom Kromadit vẫn luôn đề cao lòng trung thực, chính trực trong nghiệp kinh doanh.
Chân ướt chân ráo vào nghề, chưa kịp mừng rỡ về những “phần thưởng” ngọt ngào có được từ nỗ lực của bản thân, ông biết đâu có biết bao cạm bẫy luôn rình rập những “con mồi” ngây thơ, yếu ớt như mình. Chính vì thế, tưởng rằng việc hợp tác với hai người “khổng lồ” Bill Perez và Paul giúp đưa sản phẩm của mình thâm nhập thị trường Mỹ sẽ diễn ra suôn sẻ với viễn cảnh đẹp như mơ, Vikrom đã bỏ rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc của mình để mong có được một hợp đồng ký kết.
Để rồi cuối cùng, giấc mơ vụt tắt khi hai “người bạn lớn” này quay ra trở mặt với ông và tiến hành kinh doanh độc lập. Kế hoạch thất bại đầu tiên ấy đã gây cho Vikrom một cú sốc lớn. Ông đã mất khá lâu mới có thể cân bằng lại cuộc sống và “chiến đấu” tiếp. Đây cũng là bài học kinh nghiệm mà ông “khắc cốt ghi tâm” để nhắc nhở bản thân mỗi khi làm việc.
| Vikrom đã phấn đấu vươn lên bằng ý chí mạnh mẽ, một tầm nhìn rộng lớn và trở thành nhà phát triển khu công nghiệp lớn nhất Thái Lan, Chủ tịch kiêm CEO Tập đoàn AMATA lừng danh Đông Nam Á ngày nay.Tại Việt Nam, ông đã phát triển Amata tại thành phố Biên Hòa (Đồng Nai). |
Trên con đường sự nghiệp đầy chông gai, thử thách và hiểm nguy ấy, ông đã từng trải qua, và gặp rất nhiều những mánh lới, thủ đoạn lọc lõi để “lật” nhau của các đối tác. Có nhiều cách để “dạy” cho họ nhớ về những gì họ đã gây ra. Tuy nhiên, Vikrom không làm điều đó. Ông luôn đề cao lòng trung thực, chính trực trong cái thế giới hỗn loạn ấy.
Theo Vikrom, sống có tình nghĩa, đền đáp công ơn những người đã giúp đỡ mình là đức tính không thể thiếu của mỗi doanh nhân. Cho dù làm bất cứ việc gì cũng phải dựa vào lẽ phải, sự công bằng và rộng lượng. Điều gì đã hứa phải cố gắng thực hiện bằng được vì lời nói chính là “ông chủ” của mình, nên suy nghĩ kỹ trước khi nói, đã nói thì phải làm.
Trọng các mối quan hệ
“Tỷ phú 25 xu” có phương châm sống rất giống với quan niệm của người Việt Nam, “giàu vì bạn”.
Ông từng chia sẻ quan điểm này của mình trong cuốn tự truyện “Tay không xây dựng cơ đồ”: “Chim không cánh không thể bay cao, người không bạn không thể tiến xa, cần phải có những người quen biết, cùng hội cùng thuyền để nương tựa, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, tôi chỉ kết bạn với người tốt, trung thực và công bằng. Có lưu ý nữa là cách chọn lọc những người đáng để làm quen.
Thích nghi là nghệ thuật sống
Vikrom cho rằng, thay đổi bản thân thích nghi với hoàn cảnh sẽ giúp bản thân tự tin và hòa đồng hơn.
Nghệ thuật sống mà “tỷ phú 25 xu” luôn vận dụng là tự điều chỉnh bản thân linh hoạt với hoàn cảnh và môi trường sống luôn thay đổi. Nhờ đó, trong thời gian 10 năm hoạt động, các vấn đề công ty gặp phải đã lần lượt được giải quyết ổn thỏa. Ông đã trang trải sòng phẳng khoản nợ 8 triệu bạt do thua lỗ trong hai vụ buôn bán bột sắn 300 tấn và 2 container cá ngừ hộp bị trả lại.
Không bỏ qua hai chữ "kiên trì"
Đây là đức tính thường thấy của những người thành đạt. Ở Vikrom cũng vậy, để có được thành công với số tài sản trăm triệu đô la, sở hữu 900 nhà máy, cơ sở sản xuất với doanh thu bằng 10% GDP của Thái Lan hàng năm với số vốn khởi nghiệp chỉ vỏn vẹn 25 xu là cả một quá trình lao động miệt mài, cần mẫn, bền bỉ.
Đứng trước những “cơn bão tố” ập đến, có những lúc như “nuốt trọn” cơ đồ bao năm gây dựng, chắt chiu, ông đã chống chọi kiên cường. Ông luôn tìm cho mình lối thoát trong những tình thế bế tắc ấy bằng chính sự kiên trì.
- Thu Thảo
Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012
Blog Thứ Tư của Og Mandino
APRIL 18, 2012 BY GUEST 3 COMMENTS
Cách duy nhất để thành công trong bất cứ một hoàn cảnh nào, một công việc nào … là luôn luôn cố gắng vượt quá chỉ tiêu đòi hỏi nơi mình, luôn luôn dâng hiến nhiều hơn, từ sản phẩm đến dịch vụ, từ công việc đến xử thế, bất cứ trong hoàn cảnh nào. Đây là thói quen số một của mọi người thành công. Cách chắc nhất khiến con người trở thành hèn mọn là chỉ làm đủ việc mà con đã được trả lương để làm.
Đừng nghĩ rằng nếu con cho đi nhiều hơn con nhận là con bị lừa gạt. Giống như một quả lắc, con càng kéo về một phía thật xa, quả lắc sẽ dao động qua chiều đối diện gấp chục lần lực đẩy. Nếu ngày nay, con không nhận được phần mình, để càng lâu, phần của con sẽ sinh sôi nảy nở gấp trăm lần.
Nếu con không chịu bước đi một bước nữa, chỉ làm vừa đủ, là con đã tuyên án cho đời con một kiếp sống hèn mọn. Luật nhân quả và thừa trừ luôn luôn tuyệt đối. Trái chín mà ngày nay con hưởng thụ đã hiện diện trong cái nhân con vừa gieo trồng ngày hôm qua. Không bao giờ sai trật.
Luôn luôn bước thêm một bước nữa.
Nếu con nghĩ rằng con đang phục vụ một tên chủ không biết điều, hãy tiếp tục phục vụ hắn. Hãy để ta làm người mang nợ của con. Và ta hứa là ta sẽ trả cho con đầy đủ … nợ càng lâu, lãi xuất càng tích lũy và con sẽ thụ hưởng toàn vẹn cái tích lũy cấp số của món nợ này.
Ta không thể ban cho con sự thành công… chỉ có con là xứng đáng với trái quả mà con đã gieo trồng.
Hãy bước thêm một bước nữa.
Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012
Quy tắc (80 / 20) và Quy tắc (40 / 30 / 20 / 10)
THẾ GIỚI CÓ NHỮNG QUY LUẬT, CÒN CUỘC SỐNG PHẢI ĐỀ RA NHỮNG QUY TẮC
| ||||
| Nguyễn Tất Thịnh | ||||
1. Dẫn nhập
- Sự vật hiện tượng có thể được chúng ta xác định được bằng cảm tính hay định lượng. Về Cảm tính càng mang tính triết lí càng sâu sắc. Về Định lượng càng đo lường được bằng những con số thì càng tốt. Cả hai cách đó cho chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn bản chất / trạng thái / biểu hiện / diễn tiến… của Sự vật Hiện tượng.
- Nhiều điều tưởng như là trừu tượng chỉ có thể là Cảm tính nhưng thực ra có thể đo lường được nó rất cụ thể, ví dụ sự hài lòng của Khách hàng, Cô gái đẹp…Và nhiều khi bằng những cách thức hữu hạn ( đo lường được ) có thể đáp ứng được những điều có vẻ như Cảm tính đó ( ví dụ như 1 bông Hoa Hồng giá 20 nghìn có thể khiến người ta hài lòng; Cô gái đẹp có thể đo bằng các tiêu chí…)
- Trong khoa học xác suất thống kê, khi nói : Sự vật Hiện tượng (A) khoảng 60% thì con số 60 rất cụ thể nhưng lại rất tương đối với chính nó và với Sự vật Hiện tượng khác, chỉ thuần túy nói lên một điều : quá bán so với một trạng thái cân bằng qui ước 50/50 chứ tuyệt nhiên chưa thể phản ánh như thế là tốt hay xấu… Do đó, để hiểu phải gắn 60% với tiến trình động của chính Sự vật Hiện tượng (A)
Quy tắc (80/20) nhiều người đã nghe qua về nó, nhưng tôi muốn mọi người cùng hiểu Quy tắc đó một cách dễ dàng. Và Quy tắc (40/30/20/10) mà Tôi là tác giả ( sẽ được viết trong bài sau ) - để tất cả có thể cùng phát triển nó trong quan sát, học tập hàng ngày. Dù (80/20) hay (40/30/20/10) thì chúng ta đã thấy ngay: ĐÓ LÀ NHỮNG PHẦN CÓ MẶT TRONG 100% SỰ VẬT HIỆN TƯỢNG…MÀ PHẢN ÁNH TÍNH CHẤT CỦA NÓ TRONG ĐÓ, ĐỒNG THỜI LÀM NÊN TÍNH ĐA DẠNG, SỰ BIỂU HIỆN NHIỀU CHIỀU CỦA SVHT
2. QUY TẮC (80/20):
Phản ánh mối quan hệ giữa nội tại với bên ngoài của Sự vật Hiện tượng hoặc hai phương diện trái chiều của chính SVHT. Đó là mối quan hệ cân bằng động.
- Cơ sở: - Nếu cầm 1 đồng xu lên gieo sẽ đạt tới xác xuất xuất hiện hai mặt xu là 50/50 khi số lần gieo là vô hạn, với những điều kiện gieo là tuyệt đối không thay đổi. Nhưng thực tế trong môi trường và cuộc sống, điều đó là không thể nên nói chung xác xuất sẽ là 80/20 với mỗi mặt của đồng xu đó
- Ban có thấy là nếu có trạng thái (50/50) ở Sự vật Hiện tượng nào đó, vào thời điểm nào đó thì vô cùng ngắn ngủi, đến mức không nhận ra…Phần lớn chúng ta, Sự vật Hiện tượng phải tồn tại trong nhưng hoàn cảnh điều kiện, môi trường không bao giờ như thế cả nên hoặc chúng ta dịch về đầu dưới (20/80) hoặc về đầu trên (80/20) trong việc xác lập trạng thái ứng xử
- Trong một Người Bình thường có Hai Loại Nội Tiết Tố Giới Tính ( Testosteron – Nam & Egesteron – Nữ ). Nếu một người T là đa số ( 80%) E thiểu số ( 20% ) thì đó là Đàn ông đích thực và bình thường, ngược lại là Đàn bà đích thực và bình thường. Tỉ lệ này nếu thay đổi thì có sự phiền phức hay lệch lạc về giới tính
- Bởi vậy 80 là con số phản ánh Đa số quyết định, con số 20 phản ánh Thiểu số đối trọng. Do đó, (80/20) là tỉ lệ cân bằng động xác lập một trạng thái ổn định tương đối nhưng bền vững của Sự vật Hiện tượng... Khi tôi giải thích như thế Bạn đọc bắt đầu thấy trào dâng lên ý tưởng của riêng mình rồi đây…!
Ví dụ của tôi :
- 80% doanh số và lợi nhuận có được từ 20% khách hàng quen và trung thành. Để tăng thêm 20% lợi nhuận cần phải tăng thêm 80% doanh số. Để thêm 20% khách hàng đến thường xuyên với cửa hàng chúng ta phải xuất hiện thêm 80% chủng loại hàng hóa, trong 100% chủng loại hàng hóa phải có 20% hàng hóa ‘đặc biệt’ và 80% hàng hóa ‘đại chúng’. Ngân sách để làm thương hiệu 80% dành cho PR, 20% dành cho Marketing. Để tăng thêm 20% giá trị mới cần tăng thêm 80% chi phí, nếu tăng thêm 80% chi phí mà không tạo thêm 20% giá trị mới thì thất bại ….Cứ thế mà tiếp tục….
- Người đàn ông phải nộp ít nhất 80% tổng thu nhập cho vợ mới mong yên ổn tiêu gần 20% còn lại. Người ta phải ít nhất dành 80% tâm sức cho gia đình ( hoặc tổ chức ) thì mới may ra không bị càn quét đời tư để có thể dành 20% cho ‘nỗi niềm’ cá nhân của mình. Nếu không có 20% cái ‘góc riêng’ đời tư yên ổn, tự do thì 80% kia vô cùng méo mó. 80% dành cho Gia đình hay ( Tổ chức ) không nên cơm cháo gì được thừa nhận, thì 20% cái ‘góc riêng’ của anh bị coi là ích kỉ, hâm hiu, lăng nhăng….Cứ thế mà phát triển…
- Trong một Tổ chức 80% là quần chúng / thừa hành bởi vậy tiềm năng to lớn nằm trong họ, 20% là những người quản lí / lãnh đạo, nên ý chí tập trung vào đây. Nhưng sự tập trung và dân chủ sẽ hoàn hảo nếu 80% quần chúng quyết định được vai trò đại diện của 20% người kia và 20% người kia quyết định được cách thức lớn của Tổ chức. Trong một Tập thể có 80% giơ tay biểu quyết cho những ‘điều đang chi phối họ’ , 20% giơ tay cho những ‘điều họ muốn chi phối’. Chỉ đạo 20% + điều hành 80% gọi là quản lí cấp trung, ngược lại là Lãnh đạo cấp cao…Cứ thế mà suy tiếp…
- Người ta có tâm lí nếu được thích bởi (A) nếu trong đó có 20% cái điều cốt lõi, phù hợp thì dễ dàng chấp nhận 80% điều còn lại của (A) chưa thích, nếu không 80% của (A) tuy cũng rất hay đấy nhưng họ sẽ bỏ qua. Trong một Tin tức nếu có 80% đã được kiểm chứng, 20% chưa được kiểm chứng thì nội hàm của 20% đó chính là ‘khoảng trống thông tin’ chứa đựng ẩn ý của người viết, 80% để tạo dư luận. Nghe 80% người nói về điều gì đó thì anh sẽ là 20% người còn lại ngoài cuộc đang mơ hồ 20% điều về nó, nếu anh nghe được mới 20% người nói về điều đó anh sẽ là người trong cuộc ….Cứ thế mà vân vân….
3. Quy tắc (40/30/20/10)
| ||||
Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012
Cuộc chiến giữa EQ và IQ
EQ là thước đo độ thông minh về cảm xúc, hoặc khả năng kết hợp việc sử dụng cả cảm xúc lẫn các kỹ năng xuất phát từ kinh nghiệm trong cuộc sống. Thông minh, cảm xúc gồm có nhưng không chỉ giới hạn ở sự thấu cảm, trực giác, sức sáng tạo, sự năng động, kiên cường, khả năng chiến đấu, cân bằng áp lực, khả năng lãnh đạo, tính chính trực, sự xác thực, khả năng suy nghĩ và liên kết con người.
IQ là một chỉ số được sử dụng để diễn tả sự thông minh biểu hiện ra bên ngoài một cách tương đối của một cá nhân. IQ là chỉ số đo năng lực nhận thức, như khả năng học và hiểu hoặc xử lý tình huống; khả năng áp dụng kiến thức vào môi trường thực tế hoặc suy nghĩ phản biện (như được đo trong các bài kiểm tra); sự nhạy bén của đầu óc; kỹ năng logic và phân tíchSo sánh
- Con người rèn luyện được EQ thông qua cuộc sống; còn IQ học được ở sách vở và trường lớp
- EQ: Thuyết phục người khác bằng lí do và cảm xúc; còn IQ chứng minh bằng số liệu và thực tế.
- EQ: Sử dụng cảm xúc và kinh nghiệm để thực hiện chức năng một cách hiệu quả; còn IQ: Chỉ dùng kỹ năng nhận thức.
Ví dụSamuel có IQ rất cao. Anh ấy có khả năng lập luận, rất có khả năng phân tích và logic và đặtJose có EQ rất cao. Anh ấy hoà thuận với mọi người, và kiểm soát cảm xúc của mình cũng rất tốt. Điều này giúp anh ta làm việc hiệu quả, mặc dù trong công ty một số người có IQ cao hơn Jose. Jose có khả năng hiểu những thành phần của cảm xúc trong giao tiếp, và sử dụng cả khả năng kinh nghiệm lẫn sự hiểu biết về cảm xúc của mình. Anh ta có thể ảnh hưởng và động viên mọi người bởi vì anh ta hiểu điều gì làm mọi người quan tâm, và là một nhà ngoại giao xuất sắc. Anh ấy rất linh hoạt, sáng tạo khi phải đối mặt với thử thách, và không bao giờ nản lòng khi phải đối mặt với những thất bại trước mắt. Anh ấy rất được yêu mến và kính trọng.một mục tiêu "thép" vào công việc. Anh ấy học những thứ mới rất nhanh. Tuy nhiên, anh ta lại không để ý đến việc mình đang nghĩ gì và người khác đang nghĩ gì. Nếu mọi thứ không được như anh ta mong muốn, anh ta sẽ trở nên nóng nảy và chỉ trích người khác. Anh ta không thể gần gũi với những người không thông minh bằng mình và kém đồng cảm. Tất cả những điều này làm cản trở anh ta làm việc hiệu quả trong nhóm mặc dù chỉ số IQ rất cao.
Điểm mấu chốt
EQ quyết định nhiều hơn tới những thành công và hạnh phúc trong cuộc sống của bạn hơn là IQ và điều quan trọng là EQ có thể học được.
Những sự phân biệt khác
[LIST][*]Biết như thế nào và tại sao; so với Biết cái gì.[*]Bết làm thế nào để động viên mọi người; so với Đối xử với mọi người như thể là họ đã không chịu làm theo cách mà nhẽ ra họ nên làm.[*]Chế ngự cảm xúc và sử dụng cảm xúc để đạt được hiệu quả tốt; so với Để cho cảm xúc chế ngự bởi vì bạn không hiểu chúng hoặc không biết làm thế nào để "làm việc" với chúng. [SIZE=3]Và bây giờ bạn hãy quan sát những những người xung quanh mình xem ai có EQ cao nhất và thử xem có phải họ đang rất thành công hay không!. Nếu đúng thì những kết luận này thực sự là đáng tin cậy.
"Cuộc chiến" IQ - EQ trong tuyển dụng
Từ rất lâu, con người đã đề cao quá mức trí tuệ, coi nó như cốt lõi của nhân cách. Các nhà tuyển dụng trước đây chỉ lấy chỉ số thông minh IQ làm thước đo giá trị cá nhân và gần như “tôn sùng” những ứng cử viên có điểm IQ xuất xắc. Hầu hết mọi người đều cho rằng chỉ số IQ bậc cao là ưu thế tuyệt đối, là yếu tố duy nhất để thành nhân và thành công.
IQ “mất uy”
Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 20, với sự phát triển mạnh mẽ của mạng truyền thông Internet và những dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng, loài người đã phải nhìn nhận lại vấn đề này khi xuất hiện nhiều tin tặc có chỉ số IQ siêu đẳng đã “làm mưa, làm gió” trên các dữ liệu tối mật của nhiều quốc gia hay ăn cắp hàng triệu triệu đôla bằng việc xâm nhập vào hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tội phạm quốc tế ra đời với những “ông trùm” có trí thông minh tuyệt vời và những thành tích đáng nể trong học tập đã khiến an ninh quốc gia của nhiều nước có lúc trở nên khó kiểm soát.
Lúc này, mọi người mới nhìn nhận ra rằng, IQ không là yếu tố đo lường đúng đắn nhân cách của con người và cũng không quyết định sự thành công của một con người trong cuộc sống. Cần phải có một thước đo khác nhân bản hơn bởi sự có ích hay không có ích với công việc, cộng đồng trước hết xuất phát từ hệ thống cảm xúc của cá nhân trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng.
Chỉ số EQ đã ra đời như vậy. Năm 2005, trong cuốn sách có lời đề tựa Emotional Intelligence (Trí tuệ cảm xúc), nhà tâm lý học Daniel Goleman đã đề cập đến chỉ số cảm xúc trong lĩnh vực trí tuệ, còn gọi là sự thông minh của tâm hồn hoặc thông minh trong cảm xúc. Ông đã đề xuất 7 tiêu chí để đánh giá chỉ số EQ, đó là:
- Có ý thức về khả năng của mình
- Có động cơ phấn đấu
- Kiên trì
- Khả năng kiềm chế
- Khả năng điều chỉnh cảm xúc
- Sự thấu cảm
- Tinh thần lạc quan
Tuy nhiên, phải đến năm 2006, 2 nhà tâm lý học Peter Salovey (Đại học Yale) và John Mayer (Đại học Hampshire, Mỹ) mới được coi là có công trong nghiên cứu chẩn đoán và đưa ra chỉ số EQ.
EQ lên ngôi
EQ (Emotional Quotient: chỉ số thông minh cảm xúc) là một quan niệm phức tạp bao gồm những đức tính như hiểu được cảm xúc (hay tình cảm) của chính mình, thông cảm hay đồng cảm với người khác, điều hòa được cảm xúc (hay tình cảm) sao cho cuộc sống thăng tiến, hòa hợp được với người khác, v.v...
Với một nhà quản trị, chỉ số EQ cao luôn gắn liền với sự thành công trong kinh doanh. Trí thông minh cảm xúc thường gắn liền với khả năng tiếp xúc và thấu hiểu cảm giác của người khác. Khả năng này thực sự rất cần thiết trong việc quản lý nhân viên, thu hút, hấp dẫn khách hàng và các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, khác với môi trường làm việc đơn lẻ trước đây, môi trường làm việc nhóm ngày càng khẳng định thế mạnh của mình trong thời đại kỹ thuật số, khi mà một sản phẩm không đơn thuần chỉ do một người làm ra mà là kết tinh của rất nhiều bộ óc và sức lực. Chính vì vậy, mối quan hệ tương tác giữa con người và con người được coi trọng hơn bao giờ hết và người biết gắn kết, biết làm việc theo nhóm, có khả năng thu phục nhân tâm được coi trọng hơn cả. Một người có EQ tốt là người nắm rõ các cảm xúc của mình và của người khác, có lòng cảm thông, kiểm soát được cảm xúc, biết phân lập ra các cảm xúc tốt, chí thú với công việc, có những kỹ năng giao tiếp xã hội. Từ đó mới có thể thúc đẩy tinh thần làm việc tập thể và thiết lập được những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau tốt để công việc có hiệu quả.
Chính vì lý do này, ngày nay nhiều nhà tuyển dụng đã sử dụng những bài kiểm tra EQ để đánh gía ứng viên. Các bài kiểm tra EQ cho các vị trí công việc thường không giống nhau do sự yêu cầu cảm xúc trong mỗi công việc là khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các bài thi đều dựa trên việc phân tích, đánh giá về khả năng xử lý tình huống, khả năng giao tiếp để từ đó xác định tính cách của ứng cử viên.
Bên cạnh đó, nhà tuyển dụng cũng đánh giá rằng: EQ cao có nghĩa ứng viên có khả năng giữ sự bình ổn, cân bằng về mặt cảm xúc, giữ được sự tỉnh táo, lý trí, không bị cảm xúc chi phối. Nó phản ánh những đặc tính rất quan trọng đối với thành công trong cuộc sống hiện đại của con người, tính linh hoạt, năng động và khả năng thiết lập được những mối quan hệ xã hội. Người có EQ cao là người có tấm lòng rộng mở, quyết tâm học hỏi, đồng thời là người có suy nghĩ sâu sắc, có cá tính mạnh mẽ và kiên trì theo đuổi ước mơ, hoài bão tốt đẹp của mình.
Một câu hỏi kiểm tra EQ được nhắc đến nhiều nhất ở Việt nam như sau: “ Một chàng thanh niên đang đi trên đường, trời mưa bão và chiếc xe của chàng chỉ có khả năng chở thêm 1 người nữa. Đúng lúc đó, có 3 người muốn đi nhờ xe của chàng, 1 là cô gái chàng đang yêu say đắm, 1 là bà cụ già ốm yếu và 1 là vị bác sỹ rất nổi tiếng có khả năng chữa khỏi bệnh cho nhiều người, nếu bạn là chàng, bạn sẽ cho ai đi nhờ xe?”.
Trong hơn 300 người tham gia cuộc thi tuyển dụng hôm đó, chỉ có 30 người trả lời đúng ý của ban giám khảo: “chàng trai sẽ nhường xe cho vị bác sỹ để vị bác sỹ chở bà già đi, còn mình sẽ ở lại cùng với cô gái để vượt qua con đường mưa bão”. Cách trả lời đầy nhân văn đó đã thể hiện một phần tính cách của ứng cử viên, biết cách xử lý tình huống hợp lý, có lòng yêu thương với con người và cuối cùng sẽ trở thành người thành công trong mọi mối quan hệ.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa hoàn toàn phủ định tầm quan trọng của IQ trong việc đánh giá một ứng cử viên mà EQ và IQ nên luôn đi song hành với nhau. EQ là điều kiện cần còn IQ là điều kiện đủ. EQ cao hay thấp quyết định khả năng tự khống chế cảm xúc bản thân, IQ cao hay thấp quyết định khả năng sáng tạo suy nghĩ. Nếu EQ thấp, bạn không hiểu rõ chính mình, thì IQ có cao cũng vô dụng, nếu EQ cao, bạn không bị ngoại cảnh tác động, biết kiềm chế bản thân, lúc đó IQ của bạn mới thật sự phát huy được tác dụng.
Có câu nói nổi tiếng được nhiều nhà quản lý cấp cao tâm đắc là: “Với IQ người ta tuyển dụng bạn, còn với EQ người ta đề bạt bạn”. EQ sẽ vẫn là chỉ số hữu dụng để đánh giá sự thành công của một cá nhân trong tuyển dụng và trong công việc sau này.
Một số kiểu trắc nghiệm EQ hiện có trên thế giới:
- Trắc nghiệm đó EQ của John Mayer, Perter Salovey và David Caruso, phiên bản 2.0 2002 dành cho người lớn từ 16 tuổi trở lên, gồm có 141 item và thời gian làm từ 40 đến 45 phút, thực hiện với cá nhân hoặc với nhóm. Trắc nghiệm này được tiến hành dựa trên mô hình trí tuệ cảm xúc kiểu thuần năng lực: vừa được chuẩn hoá trên mẫu chuẩn quốc gia của Hoa kỳ.
- Trắc nghiệm đo EQ của Bar – On dành cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi. Gồm có 60 item và thời gian hoàn thành là 15 phút.Trắc nghiệm này được chuẩn hoá tại Hoa Kỳ và Canada.
- Trắc nghiệm sáng tạo TSD- Z của Klaus L. Urban 1994. Dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ (vẽ tranh) được thiết kế cho cả trẻ em và người lớn, thời gian là 15 phút, đưa ra một trang giấy test có 6 hoạ tiết trong đó 5 hoạ tiết nằm trong khung hình chữ nhật, một hoạ tiết nằm ngoài khung này, các nghiệm thể được yêu cầu phải hoàn thiện bức tranh dựa trên các hoạ tiết đã cho theo ý của riêng mình. Các bức tranh sau đó được chấm điểm theo 14 tiêu chí, phản ánh cấu trúc sáng tạo mà trắc nghiệm muốn đo lường theo mô hình lý thuyết sáng tạo của Klaus L. Urban.(Sưu tầm)
Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012
Ba nguyên tắc đầu tư bất hủ của Benjamin Graham và phong cách đầu tư của Warren Buffett
Warren Buffett được thừa nhận rộng rãi là một nhà đầu tư vĩ đại nhất của mọi thời đại, nhưng nếu bạn hỏi ông xem ai là nhà đầu tư vĩ đại nhất câu trả lời mà bạn có thể nhận được từ cây đại thụ trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu là: Benjamin Graham. Graham là nhà đầu tư thông thái, người được xem là Bố già trong lĩnh vực phân tích chứng khoán và đầu tư giá trị. Ý tưởng và phương pháp đầu tư của ông được trình bày rõ ràng trong cuốn sách “Security analysis - Phân tích chứng khoán” (1934) và cuốn “The intelligent - nhà đầu tư thông minh” (1949), là hai trong số những ấn phẩm nổi tiếng nhất của ông. Những ấn phẩm này thường được xem là cần thiết phải đọc của bất cứ nhà đầu tư nào mặc dù chúng không dễ đọc chút nào. Ở đây chúng tôi đã cô đọng lại những nguyên tắc đầu tư chính của Graham và giúp bạn có một khởi đầu trong việc hiểu được triết lý mang lại thắng lợi của ông.
Lợi nhuận an toàn là nguyên tắc mua chứng khoán với giá giảm đáng kể tới mức giá trị thực, nó được hiểu là không chỉ đem đến những cơ hội lãi lớn mà còn hạn chế tối đa nguy cơ giảm giá trong đầu tư. Ví dụ đơn giản, Graham muốn mua tài sản có giá trị 1 đô la nhưng trả giá 0.5 đô la. Ông ấy làm điều này rất tốt.
Đối với Graham những tài sản này có thể đáng giá bởi tiềm năng sinh lời ổn định hoặc đơn giản vì chúng có giá trị thanh khoản. Ví dụ như thật không bình thường nếu Graham đầu tư vào cổ phiếu nào mà tài sản có thể thanh khoản được trên bảng cân đối kế toán (giá trị thực của các khoản nợ) có giá cao hơn mức chấp nhận của thị trường (theo Graham gọi tên là thu nhập ròng). Điều này có nghĩa Graham đang mua một thứ mà chẳng có lợi chút nào. Đây là chiến lược đầu tư điển hình trong số nhiều chiến lược của Graham.
Khái niệm này rất quan trọng để các nhà đầu tư lưu ý vì đầu tư giá trị đem đến lợi nhuận thực chất một khi thị trường không thể tránh khỏi việc tái định giá làm tăng giá cổ phiếu tới mức hợp lý. Nó cũng giúp bảo vệ trong trường hợp thị trường đi xuống nếu mọi thứ diễn ra không theo kế hoạch và tình hình kinh doanh bấp bênh. Khoản lợi nhuận an toàn từ việc mua lại công ty được định giá thấp hơn giá trị của nó rất nhiều là điểm trung tâm trong những thương vụ thành công của Graham. Khi lựa chọn kỹ lưỡng, Graham nhận thấy hiếm khi xuất hiện sự sụt giá thêm nữa ở những cổ phiếu có giá trị thấp này. Khi nhiều sinh viên của Graham thành công với những chiến lược của riêng mình thì họ vẫn đều cùng chia sẻ quan điểm chính là “lợi nhuận an toàn’.
Nguyên tắc 2: Đương đầu với sự bất ổn và kiếm lợi từ đó
Đầu tư chứng khoán có nghĩa là đối phó với sự bất ổn. Thay vì tháo chạy lúc thị trường căng thẳng thì nhà đầu tư thông minh lại chào đón xu hướng suy giảm như cơ hội đầu tư tuyệt vời. Graham minh họa điều này bằng hình ảnh tương tự ”Ngài Thị trường”, đối tác kinh doanh tưởng tượng của mọi nhà đầu tư. Hàng ngày ‘Ngài thị trường” chào giá các nhà đầu tư hoặc để mua hoặc để bán cổ phần kinh doanh. Lúc thì thị trường bị quá khích bởi viễn cảnh kinh doanh và đưa ra mức giá quá cao, khi thì thất vọng bởi tương lai và đưa ra mức giá quá thấp.
Bởi thị trường chứng khoán có những cảm xúc tương tự nên bài học ở đây là bạn không nên để những quan điểm của “Thị trường” sai khiến những cảm xúc của riêng bạn, hoặc tệ hơn là định hướng cho quyết định đầu tư của bạn. Thay vì thế, bạn nên định hình phong cách tiên lượng về giá trị của riêng mình trên cơ sở kiểm chứng sự kiện một cách chắc chắn và hợp lý. Hơn nữa bạn chỉ nên mua khi giá được chào có ý nghĩa và bán khi được giá. Ở một khía cạnh khác, thị trường đôi khi chao đảo bất thường, nhưng thay vì sợ hãi trước sự bất ổn bạn hãy sử dụng nó như một cơ hội để mua được giá hời và bán ra khi cổ phần của bạn được giá cao hơn giá trị thực.
Đây là hai chiến thuật Graham đưa ra nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ tính bất ổn của thị trường:
1. Bình ổn giá trị đô la
Bình ổn giá trị đô la được thực hiện bằng cách định kỳ mua cổ phiếu tương đương với một giá trị đô la nhất định. Nó giúp duy trì ổn định giá, có nghĩa nhà đầu tư không phải quan tâm đến việc mua nó hoàn toàn ở vị trí dẫn đầu thị trường hay không. Bình ổn giá trị đô la là một phương thức dành cho nhà đầu tư thụ động và nó làm giảm bớt gánh nặng trách nhiệm trong việc chọn mua cổ phiếu với giá bao nhiêu và khi nào cho đúng.
2. Đầu tư cả cổ phiếu và trái phiếu
Graham gợi ý nhà đầu tư nên phân bổ danh mục đầu tư cân đối giữa cổ phiếu và trái phiếu như một cách để bảo toàn vốn khi thị trường suy thoái thì vẫn duy trì được thu nhập từ trái phiếu. Nên nhớ triết lý của Graham là trên hết phải bảo toàn vốn sau đó mới làm cho nó tăng trưởng. Ông đưa ra mức 25% – 75% đầu tư vào trái phiếu tùy tình hình biến đổi thị trường. Chiến thuật này có điểm lợi là giữ cho nhà đầu tư tránh được cảm giác khó chịu dẫn đến sự cám dỗ tham gia vào các thương vụ bất lợi.
Nguyên tắc 3: Tự biết mình thuộc loại nhà đầu tư nào
Graham khuyên các nhà đầu tư phải biết rõ cá tính đầu tư riêng của mình. Để minh họa cho điều này, ông phân biệt rõ những nhóm nhà đầu tư khác nhau tham gia trên thị trường. Nhóm chủ động và nhóm bị động. Graham đề cập đến khái niệm chủ động cho những nhà đầu tư tấn công và bị động cho nhưng nhà đầu tư phòng thủ. Bạn chỉ có duy nhất một trong hai lựa chọn: hoặc là hãy cam kết nghiêm túc bằng thời gian và sức lực của mình để trở thành nhà đầu tư có hạng, biết cân bằng giữa lượng và chất của khảo sát thực tế với lãi suất mong đợi. Nếu đây không phải là thế mạnh của bạn hãy bằng lòng chấp nhận mức lời bị động và thấp hơn nhưng với thời gian và công sức rất ít. Graham thay đổi quan niệm có tính hàn lâm từ trước tới nay là “rủi ro = lợi nhuận”. Đối với ông thì “công sức = lợi nhuận” mới đúng. Bạn càng bỏ ra nhiều công sức trong việc đầu tư bạn càng kiếm được nhiều lợi nhuận.
Nếu bạn không có đủ thời gian và sự nghiên cứu nghiêm túc một cách chất lượng danh mục đầu tư của bạn thì hãy hãy đầu tư vào một danh mục được lựa chọn tốt. Graham cho rằng nhà đầu tư thụ động có thể đạt được lợi nhuận trung bình bằng cách đơn giản mua 30 cổ phiếu công nghiệp Dow Jones với lượng trung bình như nhau. Cả Graham và Buffett đều cho rằng có thể đạt được lợi nhuận trung bình, ví dụ giống như lợi nhuận của S&P 500 – thì đó là một thành quả thực sự hơn là dường như có thể. Theo Graham, sự ảo tưởng của nhiều người mua cổ phần là ở chỗ nếu quá dễ để có được khoản lợi nhuận trung bình mà chẳng mất hoặc bỏ ra một chút công sức (thông qua danh mục đầu tư) thì bỏ ra thêm một chút công sức chắc sẽ mang lại lợi nhuận lớn hơn một chút. Thực tế thì hầu hết những người cố gắng làm việc này đến cùng đã làm cho lợi nhuận kém hơn nhiều mức trung bình.
Theo quan điểm hiện đại nhà đầu tư phòng thủ thì đầu tư vào danh mục có cả cổ phiếu và trái phiếu. Về bản chất họ sở hữu toàn bộ thị trường, hưởng lợi từ khu vực đang hoạt động tốt nhất mà không cần cố gắng dự đoán từ trước. Làm như vậy, một nhà đầu tư hầu như được bảo đảm có lợi nhuận của thị trường và tránh được điều tồi tệ hơn mức trung bình bằng cách để kết quả tổng thể thị trường tự kiểm soát lợi nhuận dài hạn. Theo Graham, việc bắt nhịp thị trường nói thì dễ hơn làm, và nhiều nhà đầu tư thấy mình không bắt nhịp được thị trường.
Người đầu cơ và Nhà đầu tư
Không phải tất thảy người chơi chứng khoán đều là nhà đầu tư. Graham tin rằng đánh giá phê phán ai còn xác định đâu là nhà đầu cơ hay nhà đầu tư. Sự khác nhau đơn giản là: một nhà đầu tư coi cổ phiếu như một phần công việc kinh doanh và người nắm giữ cổ phiếu là người chủ công việc kinh doanh đó, trong khi quan điểm của nhà đầu cơ xem đó như là trò chơi với những tờ giấy đắt tiền, không quan tâm đến giá trị thực. Đối với nhà đầu cơ, giá trị chỉ được xác định bởi giá do người nào trả giá cho tài sản đó. Graham chỉ ra rằng đầu cơ hay đầu tư cũng đều thông minh – miễn sao bạn chắc chắn hiểu chính mình sẽ làm tốt ở loại nào.
Phong cách đầu tư của Warren Buffett
Những luận điểm cơ bản của Graham là bất hủ, là hết sức cần thiết cho sự thành công lâu dài. Ông mua cổ phiếu với quan niệm mua dưới mức giá trị của doanh nghiệp và biến nó trở thành khoa học trong khi hầu hết tất cả các nhà đầu tư có quan điểm chơi chứng khoán đều dựa trên sự suy đoán. Graham là bậc thầy vĩ đại đầu tiên về đầu tư, chứng tỏ những gì trong dòng máu tri thức của dòng họ tự thức phát triển. Nếu bạn muốn cải thiện kỹ năng đầu tư của mình, chẳng hại gì khi học những điều tuyệt vời nhất; Graham tiếp tục chứng minh giá trị học thuyết thông qua những môn đồ của ông, ví như Warren Buffett, người đã tao ra một tập quán cho nhịp điệu thị trường.
Trong ấn phẩm cuối cùng về Warren Buffett “Phong cách đầu tư của Warren Buffett” (2004), Robert Hagstrom đã minh họa phương pháp đầu tư của nhà đầu tư giá trị lỗi lạc nhất thế giới. Nếu bạn muốn lựa chọn một phong cách đầu tư giá trị cổ điển, hẳn bạn cũng biết Warren Buffett là hình mẫu có vai trò lớn. Ngay từ ngày đầu lập nghiệp, Buffett đã nói “trong tôi có đến 85% là Benjamin Graham”. Graham là cha đẻ của đầu tư giá trị. Ông đã đưa ra khái niệm về giá trị nội tại – là giá trị cơ bản hợp lý của cổ phiếu dựa trên khả năng sinh lời của nó trong tương lai.
Có một số thứ chẳng có giá trị gì theo diễn giải về đầu tư giá trị của Warren Buffett. Thứ nhất, giống như rất nhiều công thức cho sự thành công, chúng thoạt nhìn khá đơn giản nhưng không có nghĩa là dễ dàng. Bufett sử dụng hàng tá “nguyên lý đầu tư” hay sự tính toán then chốt. Một trong số đó yêu cầu ban quản lý phải trung thực với các cổ đông. Điều yêu cầu này đơn giản và dễ hiểu nhưng chẳng dễ trả lời chút nào. Có những ví dụ thú vị về mâu thuẫn này: khái niệm thì phức tạp nhưng cũng đơn giản. Ở khía cạnh này, giá trị kinh tế gia tăng (EVA) là một ví dụ thích hợp. Sự tính toán đầy đủ của EVA không dễ gì lĩnh hội và sự giải thích về chiều hướng của EVA thì phức tạp. Nhưng một khi bạn xem EVA chỉ là một danh mục dài các biến số và khi được trang bị bằng công thức thì nó trở nên dễ dàng để tính toán EVA cho bất kỳ công ty nào. Vì thế cho nên những nguyên lý của Buffett nghe có vẻ lời nói sáo bởi chúng dễ hiểu nhưng lại có thể rất khó triển khai và ngược lại.
Thứ hai, cuốn “Cách thức của Warren Buffett” có thể được xem như phong cách truyền thống căn bản trong đầu tư mà rất dễ thích nghi. Thậm chí tác giả của cuốn sách bán chạy nhất cũng chính là môn đồ của phái thực hành, hay người theo triết lý Buffett đôi lúc điều chỉnh cách tiếp cận riêng trong suốt quá trình đầu tư kể cả cổ phiếu công nghệ cao, lĩnh vực dễ thấy Buffett tiếp tục tránh xa. Một trong những khía cạnh hấp dẫn của trường phái Buffett là tính linh hoạt bên cạnh những thành công phi thường của nó. Nếu là một tôn giáo thì nó không mang tính giáo điều mà thay vào đó là sự tự phản ánh và thích ứng qua thời gian. Đây là tín hiệu tốt. Nhà kinh doanh trong ngày có thể yêu cầu những nguyên tắc cứng rắn và bám vào công thức (có nghĩa là một phương tiện kiểm soát tình cảm), nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể chắc chắn nói rằng những nhà đầu tư thành công không gì hơn là cần phải có ý thức thích nghi với những trạng thái tinh thần tương ứng với thời gian khác nhau.
Theo Hagstrom, Buffett có mười hai nguyên lý đầu tư. Chúng được phân thành các nhóm gồm kinh doanh, quản lý, thước đo tài chính và giá trị.
Kinh doanh
Buffett tự giới hạn bản thân một cách cứng rắn không tham gia vào “cuộc đua tranh giành” của thương vụ mà ông có thể phân tích và hiểu rõ. Như Hagstrom viết: thành công trong đầu tư không phải vấn đề ở chỗ bạn biết được bao nhiêu mà là bạn thực tế đến đâu trong việc xác định được cái mà bạn không biết. Buffett xem sự hiểu biết sâu sắc về vận hành kinh doanh này là điều kiện tiên quyết đối với dự báo khả thi của hoạt động kinh doanh trong tương lai; có nghĩa là nếu bạn không hiểu về kinh doanh thì làm sao bạn có thể tiên đoán được hoạt động? Mỗi nguyên lý kinh doanh của Buffett đều hỗ trợ cho mục tiêu xây dựng nên đề án lớn: Đầu tiên hãy nhớ rằng bạn đang phân tích việc kinh doanh không phải là thị trường hay nền kinh tế hay sự ủy mị của nhà đầu tư. Thứ hai là kiên định trong việc tìm kiếm lịch sử hoạt động bởi nó sẽ giúp cải thiện năng lực của bạn. Và thứ ba là phải biết chắc thương vụ có triển vọng về lâu dài hay không.
Quản lý
Ba nguyên tắc quản lý của Buffett có liên quan đến việc đánh giá chất lượng quản lý. Có lẽ đây là tác nghiệp phân tích khó nhất của nhà đầu tư. Buffett đòi hỏi “quản lý có hợp lý không?” Cụ thể quản lý sẽ là khôn ngoan khi nó thỏa mãn yêu cầu tái đầu tư lợi nhuận hoặc chia lợi tức của cổ đông. Đây là câu hỏi sâu sắc. Hầu hết các khảo sát cho dù theo nhóm hay bình quân đều cho thấy có tính lịch sử rằng quản lý có xu hướng trở nên tham lam và giữ lại lợi nhuận càng nhiều càng tốt vì theo lẽ tự nhiên họ có xu hướng xây dựng đế chế và tìm kiếm một vị thế hơn là sử dụng dòng vốn theo cách tối đa hóa giá trị của cổ đông. Một nguyên tắc khác đòi hỏi quản lý phải trung thực. Họ có chấp nhận sai lầm không?
Và nguyên tắc quản lý cuối cùng đòi hỏi rằng: quản lý có chịu đựng được những mệnh lệnh hành chính không? Nguyên lý này là quan trọng trong phạm vị rộng, nó bao gồm cả việc tìm kiếm ban quản lý say mê hành động và chống lại việc mù quáng sao chép chiến thuật và chiến lược của đối thủ cạnh tranh. Nếu đọc cuốn sách, nguyên tắc đặc thù này có giá trị một cách khác thường. Nó đòi hỏi sự suy ngẫm và là một trong những điều quan trọng nhất (ví dụ: việc đầu tiên tham gia thị trường, một công ty phải xác định đâu là ranh giới giữa việc sao chép một cách mù quáng chiến thuật của đối thủ cạnh tranh với việc đưa ra một chiến thuật vượt trội?)
Thước đo tài chính
Nguyên tắc tài chính không mấy phức tạp. Buffett nhìn vào lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE). Hầu hết các sinh viên tài chính đều hiểu rằng ROE có thể bị nhiễu bởi tỷ số nợ (là tỷ số giữa tổng nợ với vốn chủ sở hữu), cho nên về lý thuyết chỉ số này còn thấp hơn chỉ số tỷ số lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROC) theo một số phương diện. ROC theo tôi có nghĩa là giống như lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) hay lợi nhuận trên vốn vay (ROCE) mà ở đó tử số là lợi nhuận được tạo ra từ tất cả các nguồn vốn được cung cấp và mẫu số bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay. Dĩ nhiên, Buffett hiểu rằng thay vì loại bỏ riêng các doanh nghiệp mang nợ thì tốt hơn là xem xét đến một mức nợ thấp hợp lý. Ông cũng tìm kiếm mức lợi nhuận cao ở mức hợp lý tự nhiên.
Hai nguyên tắc tài chính cuối cùng đều có chung cơ sở lý thuyết từ khái niệm Giá trị kinh tế gia tăng. Đầu tiên Buffett xem xét đến cái mà ông gọi là “thu nhập của chủ sở hữu”. Về thực chất đây là thu nhập sẵn có của các cổ đông, về tính kỹ thuật thì nó không liên quan tới thu nhập từ cổ phần. Theo Buffett, nó được định nghĩa là lãi ròng (Net income) cộng thêm phần giá trị khấu hao và phần nợ trả dần (nghĩa là phần giá trị không bao gồm khoản phí liên quan đến tiền) (D&A) trừ đi chi phí vốn đầu tư dài hạn (CAPX) trừ đi chi phí vốn phát sinh cho nhu cầu hoạt động (charge in W/C). Tóm lại: lãi ròng + D&A – CAPX – (charge in W/C). Người theo chủ nghĩa thuần túy sẽ phản đối những điều chỉnh chi tiết nhưng biểu thức này gần với khái niệm EVA trước khi bạn trừ đi phần chi trả cổ tức cho cổ đông. Về cơ bản, với khái niệm “thu nhập chủ sở hữu”, Buffett chỉ ra năng lực công ty trong việc điều hành đồng vốn của cổ đông cũng chính là giới chủ. Nguyên tắc cuối cùng được gọi là “Học thuyết một đồng đô la” (one-dollar premise). Giá trị thị trường trên một đô la được chuyển nhượng vào mỗi đô la thu nhập được giữ lại là gì? Thước đo này rất giống với khái niệm Giá trị thị trường gia tăng (MVA), tỷ số giá trị thị trường trên vốn đầu tư.
Giá trị
Nhóm nguyên tắc cuối cùng là Giá trị, theo đó Buffett thiết lập cách làm dựa trên sự dự đoán giá trị thực của một công ty. Một đồng nghiệp kết luận quá trình liên quan mật thiết thiết này như “toán học liên kết”. Buffett dự đoán thu nhập chủ sở hữu trong tương lai sau đó chiết khấu trở lại tới giá trị hiện tại. Nên nhớ rằng nếu bạn áp dụng nguyên tắc khác, sự dự đoán thu nhập tương lai – theo định nghĩa – được thực hiện dễ hơn thông thường. Ví dụ như những khoản thu nhập không đổi định kỳ thì dễ dự đoán hơn.
Buffett cũng đưa ra khái niệm “rào chắn - Moat”, cái được nổi lên như một hệ quả trở thành tập quán thành công trên Morningstar của những công ty được yêu thích nhờ có “rào chắn kinh tế” (economic moat). Rào chắn là “cái đem lại cho công ty một lợi thế rõ rệt hơn đối thủ khác và bảo vệ nó trước những sự tấn công bất ngờ từ sự cạnh tranh”. Một chút ít tính lý thuyết dị giáo có lẽ chỉ xảy ra với nhà hiền triết từ Omaha, ông khấu trừ từ thu nhập được dự tính tới mức không có tỷ lệ rủi ro. Ông thực hiện bằng cách kiên định với nguyên tắc “lợi nhuận an toàn – margin of safety” trong khi áp dụng thận trọng những nguyên tắc khác với hàm ý giảm tới mức tối thiểu rủi ro chứ không có nghĩa thực sự loại bỏ được rủi ro. (Hãy tham khảo công ty nào mà Warren Buffett đang mua và bán? Hãy tham gia vào Coattail Investor, một sản phẩm đăng ký theo chân một số nhà đầu tư tốt nhất thế giới)
Nguyên lý của Buffett tạo thành nền tảng trong đầu tư giá trị, nó có cơ chế mở cho sự thích nghi và diễn giải lại về sau. Nó là một câu hỏi mở tới mức những nguyên tắc này đòi hỏi sự bổ sung bằng tri thức trong tương lai, nơi những quá trình lịch sử diễn ra tương ứng khó tìm thấy hơn, yếu tố vô hình đóng một vai trò quan trọng hơn trong giá trị quyền kinh doanh và sự không rõ ràng về ranh giới giữa các ngành công nghiệp làm cho sự phân tích kinh doanh càng khó khăn hơn.
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)